|
( Ghi chú: Tất cả nhân
vật trong bài đều giữ nguyên tên họ thật
)
LÀ NHỮNG NGÀY ÍT ỎI C̉N LẠI CỦA cái
năm 1961 ngộ nghĩnh.
Tôi bảo đấy là năm ngộ
nghĩnh v́ tôi giữ măi một ấn tượng thật
đậm đà sâu sắc về bức biếm họa
cực thông minh của báo chí đầu năm ấy,
chỉ có điều không nhớ là nó đă xuất hiện
ở báo ngoại quốc nào và đă được
báo bổn xứ nào trích đăng.
Ngót 50 năm rồi c̣n ǵ! Thời
gian ấy quá đủ cho biết bao gă si t́nh, biết
bao ả tương tư xoa dịu vô số vết
thương ḷng nhiễm trùng lây lan búa xua, ai c̣n đủ
sức nhớ cho nổi mấy cái tên báo mà tên nào tên nấy
cũng đă cúng giỗ hơn băm mấy lần rồi?
Kẻ nghĩ ra chiêu thi thơ nọ
là Trần Vinh Anh, năm năm sau đó trở thành cố
Hiệu trưởng trường Phan Chu Trinh ở
Đà Nẵng, v́ bị một thí sinh Nha Trang đâm chết
tại quán cơm Thọ Lộc trong dịp anh ta làm
nhiệm vụ Phó Chủ tịch Hội đồng
thi Tú tài ở Nha Trang năm 1967).
Chuyện thi thơ năm 1962 ấy
có đủ đầu đuôi dây nhợ như sau:
Một buổi sáng nọ tôi tà tà
đạp xe vào cửa Thượng Tứ, tâm trí vẩn
vơ tính toán đâu ra đấy chuyện thu chi cho
chuyến về quê ăn Tết sắp
tới. Tôi tà tà c̣n v́ một chuyện khác: ở quăng
đường này không gian thoáng hơn, xem cảnh bắn
súng thần công rơ ràng thoải mái hơn. “Uỳnh” một
tiếng rền trời đến nỗi nhiều nhà
cổ vùng thành nội nghe răng rắc, tiếp theo
đấy là khói, là bụi, là cỏ khô quay cuồng vần
vũ trên bầu trời Ngọ môn lâu cả mấy
phút đồng hồ, trông thật vui mắt. Ai đă
từng sống ở Huế mà quên cảnh ấy th́
quả là mất đứt phân nửa kỷ niệm có
chất lượng về cố đô.
Phát đại bác mang nặng tính
truyền thống ấy vang lên đầu giờ mỗi
buổi sáng đầu tháng, không rơ có mang ư nghĩa lịch
sử to tát nào không, chứ c̣n theo tôi th́ có lẽ đấy
chỉ có tác dụng tế nhị là đánh thức
tinh thần làm việc của các vị “sáng vác ô đi
tối vác về”, buộc họ chấm dứt tức
khắc các vụ rót nước, châm trà, khề khà mồi
thuốc, buôn dưa lê thường lấn át th́ giờ
tiếp dân vào mỗi buổi sáng.
Khói súng đă tan, cỏ khô đă tạnh,
cổng Di Luân đường đă hiện ra trước
mắt. Bên trong cổng, nơi đặt bảng thông
cáo của Viện Hán Học là một đám đông
túm tụm, tóc ngắn tóc dài hỗn độn, xê tới
nhích lui, loi nhoi liên tục.
Cách bảng thông cáo nọ không xa là
nhóm ABCT (Anh + Bích + Cung + Tưởng) thản nhiên tṛ
chuyện, phớt lờ bảng thông cáo, cứ như
nó không phải là thứ của riêng Viện Hán Học
nhà họ.
Cái tên ABCT ấy vốn do giáo sư
môn Pháp văn Phạm Kiêm Âu đặt cho. Nhắc
đến ông, tôi không sao quên được những
giờ… nghe sách. Ông bảo mỗi đứa chúng tôi
t́m mua (hay mượn đại đâu đó) một
cuốn tiểu thuyết Pháp “Người đánh cá Ai
Xơ Len” (Le pêcheur d’Island) của Pierre Loti. Trong giờ
dạy, ông đọc thật chậm răi và thật chuẩn
từng đoạn ngắn rồi cắt nghĩa, giảng
b́nh này nọ nghe rất thích. Thích nhất là khi ông
đọc lời đối thoại của các bà
đầm Ai xơ len, thôi th́ giọng đầm trẻ
láu táu, giọng đầm già trầm trầm chậm
ŕ ŕ phân biệt rơ mồn một làm cho Hồng Hạnh
ngồi dăy đầu cứ lặng lẽ che miệng
cười vụng mệt nghỉ. Thầy Âu cảm
thấy sự bất kính khó cưỡng ấy của
cô ta nhưng chỉ gằm mặt lướt mắt
nh́n qua phía trên vành kính lăo trong tích tắc, nhịp đọc
không hề có dấu hiệu gián đoạn. Hồng Hạnh
thỉnh thoảng cứ liếc trộm thầy để
duy tŕ ḷng tự tin rằng sự bất kính không nhịn
được của ḿnh vẫn c̣n bí mật chứ
chưa hề lộ tẩy. Tôi quan sát đầy đủ
và ngầm thích thú v́ biết chắc là cả hai đều
không ngờ bị tôi ŕnh rập khám phá. Ngẫu nhiên
tôi đă tái lập chuỗi sự kiện ngụ ngôn
trong truyện Đông Chu liệt
quốc: Thợ săn ŕnh chim sẻ, chim sẻ ŕnh bọ
ngựa, bọ ngựa ŕnh ve sầu. Thợ săn ở
đây nhất định là tôi rồi, c̣n chim sẻ với
bọ ngựa th́ xét ra chẳng ổn tí nào v́ các loài ấy
có đời nào di chuyển di cư xa lắc xa lơ
như vậy được đâu? (Ngày nay đă trở
thành bà đầm Ligurne ở Paris, chả biết Hồng
Hạnh có c̣n cười lén cho giọng điệu các
bà đầm bằng xương bằng thịt ở
xứ Pha Lang Sa ấy không nhỉ ?).
Cách gọi nhóm ABCT của Thầy Âu
đă đề cao sự đoàn kết bất ly của
họ khiến cả bốn có vẻ rất tự
hào. Tôi có cách riêng, gọi họ là Tứ kiệt “cờ
lê kết nghĩa” (do cùng xuất thân ḷ kỹ thuật)
nghe ấn tượng hơn, vừa hao hao âm hưởng
“Đào viên kết nghĩa” lại đề cao họ
có bề thế gấp 4/3 đám bộ sậu Lưu
- Quan - Trương từng gầy dựng nên nhà Thục
Hán đầu voi đuôi chuột trong lịch sử
Trung Quốc hồi thế kỷ III.
Tuy tôi tự thấy cách gọi của
ḿnh hay quá trời nhưng tôi đành nén đau khổ
ém bụng “sống để dạ chết mang đi”
chứ không dám công bố bừa băi v́ sợ ABCT quá nóng
vội giở ngay “cờ lê” thứ thiệt ra, không
cho tôi có đủ th́ giờ giải thích cho cặn kẽ
những ưu điểm tuyệt vời của cái từ
hay ho ấy.
Tôi tấp đại chiếc xe
đạp cà tàng của ḿnh vào… ga ra lộ thiên th́
đă nghe chất giọng Quảng Trị của Trần
Vinh Anh gọi giật:
-
Ê! Tới đây cái đă!
Tôi đă định đi thẳng
chữ Nhất đến bảng thông cáo, giờ th́ bị
nhóm ABCT buộc tôi phải chuyển ra chữ “V” (hoàn
toàn “phi Hán học” mất rồi!). Tôi hân hạnh
được họ coi là bạn, c̣n tôi, từ ngày
đến Huế tôi đă tự dặn ḷng là tuyệt
đối không gây điều phật ư một ai, thế
cho nên tôi ngoan ngoăn rảo bước đến chỗ
có tín hiệu vẫy tay nọ.
Vinh Anh tách ra khỏi nhóm, mắt hấp
him hơi tinh quái sau đôi kính cận, toe miệng
cười, xăm xăm bước về phía tôi, thực
hiện một cú bắt tay thật chặt. Lần
đầu tiên tôi nhận ra khuôn mặt hắn tích lũy
nhiều đốm lang ben hơn tôi tưởng.
Đầu óc tôi đang được
huy động hết công suất để t́m hiểu
cho bằng được ư nghĩa cú bắt tay trịnh
trọng không b́nh thường ấy th́ anh ta đă rút
tay về, dùng bàn tay trái nắm chỗ giữa bắp
tay kia, đưa cao lên quá đầu lắc lắc thật
nghịch ngợm:
-
H́ h́… Đừng có coi thường
cái tay ni đó nghe! Hắn vừa mới
bắt tay “Chánh chủ khảo” rồi
đó! H́ h́…!
Ba người c̣n lại của bộ
tứ nọ cũng nheo mắt cười theo, tinh
quái nh́n thẳng mặt tôi đang đầy ắp
ngơ ngác ngờ nghệch rồi một gă ấn vai
tôi chỉ về phía bảng thông cáo:
-
Cứ đến đằng tê ngó một
tí rồi biết!
Họ bỗng dưng biến thành bốn
gă thợ săn đang hí hửng nh́n con mồi cùng
đường, chỉ c̣n nước chui thẳng vào
bẫy. Tôi rơi vào cái thế tội nghiệp của
ngài ăn mày Trần Cảo bị bộ hạ B́nh
định vương Lê Lợi xểnh cổ về
lập làm vua ngang xương cho nhà Hậu Trần hồi
thế kỷ 15.
Bên trong chiếc cửa lưới
bảo vệ, cái tên NVL nằm chềnh ềnh cạnh
chữ Chánh chủ khảo, tiếp theo là Phó chủ khảo
Trần Vinh Anh, rồi các giám khảo BCT được
phân công cụ thể này nọ trong cuộc thi Thơ
Xuân Viện Hán Học Huế.
Thú thực, lúc đầu tôi cũng
hơi khoai khoái khi tự nhiên có người mang đến
biếu tận miệng cả mớ uy tín c̣n nóng hôi hổi,
c̣n ba cái chuyện trách nhiệm trách nhiếc th́ tôi cho
là chắc cũng chẳng có ǵ đáng lo, bởi tôi
đâu có chấm loại thơ chất lượng
siêu cao của Lư Bạch, Đỗ Phủ? Gần Tết
rồi, có nghịch ngợm tí chút kể cũng vui
thôi. Chả việc ǵ phải lo nghĩ cho… phai tàn nhan
sắc!
Ngày công bố kết quả
được định vào hôm liên hoan tất niên, tức
c̣n độ năm tuần lễ nữa.
Khi khóa sổ nhận bài dự thi
đúng theo kỳ hạn quy định, tôi hỏi
Bích:
-
Sao? Nhận được bao nhiêu
bài rồi vậy?
Bích nhăn nhó ca cẩm:
-
Chừng mươi bài chi đó. Tụi
hắn có chịu nộp chi mô? Cứ tưởng ít ra
cũng phải bốn năm chục bài rồi chớ!
Chắc tụi hắn… giấu nghề…
“Trời ơi là Chánh chủ khảo!”
Tôi rên thầm như vậy v́ cảm thấy cái uy tín
được biếu không hôm nọ đă bắt
đầu héo. Sự tàn rụng chỉ c̣n là vấn
đề thời gian… Tôi xẵng giọng (v́ uất
chứ không phải v́ tỏ oai):
-
Thi với thố! Thơ với thẩn!
Tự dưng bày tṛ chui đầu vào tḥng lọng! Kiếm
Vinh Anh biểu chiều ni họp gấp!
Năm giờ! Chỗ mọi khi!
Tiếp (1)…
“Chỗ mọi khi” tức quán cà phê
cô Dung nổi tiếng. Ở đấy có một bộ
bàn ghế lùn thấp kề gốc cây to. Nhăn hay vú sữa
chi đó nay không nhớ rơ. Tṛ chuyện nơi ấy
đỡ lo các tay mật vụ hạng bét của “ông
cậu” bịa đặt tâng công.
Ngồi xuống đủ bộ,
tôi phủ đầu ngay:
-
Ông Bích nói thiệt là đă nhận
được mấy bài rồi hả?
Tôi đă dùng tiếng “ông” nghe
căng thẳng đến thế mà mặt mày Bích vẫn
nhơn nhơn, ra cái điều ngây thơ vô tội
làm tôi muốn lộn máu:
- Vừa chẵn một tá. Nhưng
ta đă dụ khị được thằng Kỉnh…
“Chà! Th́ ra hắn hớn hở v́
điều ấy...” Tôi thầm phục Bích đă khéo
giở tṛ dụ khị. Quả thật là hắn thông
minh hơn tôi tưởng.
Kỉnh học cùng khóa I chúng tôi, lại
c̣n đẹp trai học giỏi hẳn hoi. Hắn ham
vui, chịu “xăm ḿnh” dự thi th́ mặt mũi các
thành viên Ban giám khảo “trôi sông lạc chợ” chúng tôi
cũng dễ coi thêm tí chút. Công dụ khị chưa chắc
toàn phần của Bích. Đang vui tôi lại có cớ
để buồn:
-
Nè! Chỉ mười hai bài th́ th́ liệu
có thể coi là cuộc thi thơ được không?
Lư Tưởng trầm ngâm, b́nh phẩm
như kẻ vô can chính hiệu, nghe thật lộn ruột:
-
Mạt lắm cũng phải
năm bảy chục bài chi đó th́ ngó mới
được. Dưới mức đó, người
ta cười cho thúi óc như chơi!
Tôi bảo:
-
Phải tăng cường vận
động đi chớ! Rêu rao cho thật hung hăng
rằng th́ là ta đang có kế hoạch vĩ đại
in thật mỹ thuật một Tuyển tập
thơ Hán Học Huế, thi nhân nào chậm chân là vuột
mất cơ hôi, đến lúc ấy có hối hận
cho mấy th́ cũng... đă già mất rồi!
Đức Cung hưởng ứng
sôi nổi:
-
Được lắm! Cứ mần
rứa đi!
Vinh Anh cười ruồi cất tiếng
nghe thật kẻ cả:
-
H́ h́... mất công vô ích
! Đă chắc chi đầu óc tụi hắn có
sẵn vần điệu để ṭi ra? Đầu
óc tụi hắn chừ đang ở Nha Trang, Sài G̣n,
Tây Ninh, Mỹ Tho tê! Thơ thẩn
th́ có! Miềng hiến kế như ri:
Chiều mai Chủ nhật, xúm lại nhà trọ thằng
Cung, mỗi đứa phải nộp hai mươi
bài. Ưu tiên cho Chánh chủ khảo chục bài nữa
vị chi là ba chục! Chỉ cần “chế tạo”
cái nhan đề và bút hiệu cho xôm, nội dung
nhăng cuội chi cũng OK tuốt luốt! Viết
để độn vào cho có vẻ cồm cộm rồi
vất đi ngay chớ có tranh giải tranh giếc chi
mô mà lo! Phải rứa không?
Lập tức BCT vỗ tay ráo riết,
riêng tôi cứ ngớ ra. Quả là một thủ đoạn
trời gầm! Không biết hắn tự sáng chế
hay nhập lậu? Đă có cuộc thi thơ nào
chơi ngón ấy chưa nhỉ? Đang miên man nghĩ
thế, chợt có kẻ lay tôi:
-
Người ta vỗ tay
rần rần, sao “cụ Chánh” nhà ta im re rứa? Ưu
tiên thêm chục bài bộ cho là chưa tôn kính đủ
“đô” hả? Thêm một chục nữa nhé!
Tôi chống chế theo hướng
xỏ lá:
-
Diệu kế kỳ mưu hay ho
đến ngất ngư, “cụ Chánh” cũng muốn
vỗ nhưng gân cốt bỗng dưng tê liệt hết !
Thế là đúng hẹn ba giờ
chiều hôm sau, “Ban giám khảo” chúng tôi có đủ mặt
ở một ngôi nhà nọ bên bờ sông Bến Ngự.
Cái kế hoạch của Vinh Anh đưa ra, vị
nào cũng chỉ mới hoàn thành xấp xỉ 50%.
Điều này mỗi người đều thừa
biết từ khi chưa họp. Phần tôi, thay v́ vắt
óc làm hàng giả, tôi c̣n mau mắn “chế tạo” đến
mấy tá bút hiệu đọc lên nghe thật rền
vang inh ỏi chẳng kém ǵ tiếng cồng chiêng Tây
Nguyên ! Tôi giao hẹn gă nào xào đến đâu cứ gạch
bỏ đến đấy, quá lắm cũng chỉ
tận dụng mỗi bút hiệu đến lần thứ
ba là bắt buộc phải thôi đùa dai, xài bút hiệu
khác.
Chúng tôi tản ra mỗi đứa
một góc nhà, h́ hục “sáng tác” nốt số thơ
c̣n thiếu. Mỗi đứa tự chọn cho ḿnh một
tư thế chả ai giống ai: đứa nầy
th́ ngồi bệt lên tờ báo cũ trải ra sàn nhà,
đôi chân dang ra thoải mái tối đa, lưng tựa
vào vách tường, mồm nhóp nhép kẹo mè xửng,
tay thoăn thoắt ngoáy bút một hồi liên tu bất
tận lên tờ giấy kê ở đầu gối, có
vẻ thi tứ gặp lúc tuôn x̣a chẳng khác ǵ sau cú
giật nước cái “cạch” ở một pḥng vệ
sinh nào đó. Đứa kia th́ t́ cùi chỏ và kê luôn mạn
sườn vào mép bàn ăn, mặt nghệt ra, tay c̣n lại
cứ ngắt ngắt mấy sợi râu hứa hẹn
sẽ mọc ở cằm, mắt đăm
đăm nh́n lên trần nhà (nhưng lại không nhận
ra đôi thạch sùng trên ấy đang gồng đuôi
tán tỉnh ve văn ǵ đó), bộ dáng hắn ta thật
ra vẻ thi nhân thứ thiệt đang gắt gao truy
lùng cảm hứng, tức cái thứ mà dân trong nghề
quen gọi bóng là “yên-sĩ-phi-lư-thuần” (dịch âm chữ
inspiration của tiếng Tây ra tiếng Tàu). Đứa
khác th́ ngồi xổm lên sàn nhà, tờ giấy trắng
trải lên mặt ghế đẩu khá vừa tầm
tay, đáng lẽ mặc sức trút lên đấy “lời
lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” th́ lại chỉ
thấy rặt một mớ quẹt ngang quẹt dọc
như băm bèo nuôi lợn, da mặt th́ cứ hết
đỏ lại tái như một kẻ táo bón lâu ngày,
đang kiên nhẫn chờ đợi sự phát huy công
hiệu của một thứ thuốc xổ mới vừa
dùng thử.
Không khí trong pḥng khá trầm lắng,
tôi xét thấy cần phải cất lời khuấy
động tí chút:
-
Nè, lưu ư điều này nhé! Ngắn
quá dễ “ḷi đuôi cáo”, dài quá th́ phí sức lao động. Không được
vượt quá giới hạn mười hai câu đâu
đấy ! Thời xưa thi Hội,
“bài hành” cũng giới hạn không được quá
mười hai vần mà ! Nhớ thế
nhé !
Lư Tưởng giả bộ càu nhàu:
-
Té ra “cụ Chánh” đă từng
đi thi Hội rồi ư? Rứa mà “cưa sừng
mần nghé” chui vào Viện Hán Học ni!
Hèn chi cứ chuyện tṛ tương đắc với
các cụ. Mấy cha Nguyễn Phong, Phạm Liễu râu
ria xanh nghịt cả cằm mà có ai
chơi trèo như rứa mô?
Tôi gắt:
-
Dẹp giùm cái tṛ tào lao
nhảm nhí ấy đi cho! Ai đă làm xong việc th́
ráng thêm năm ba bài nữa đi! Đừng làm cho các
“thi hào” nhà ta phân tâm chứ!
Đột nhiên Vinh Anh hét toáng lên
như… quân ta bắt được giặc vào thời
Đinh Bộ Lĩnh c̣n chăn trâu:
-
Nghe đây ń! Miềng đang mần
bài “Xuân Nhớ Thu Vàng” rồi đây nghe chưa? Cấm
tuyệt đối đứa mô trùng lặp lộn xộn
đó! Ha ha ha…!
Trời đất! Hắn to gan nhét
đại một bậc “liền anh liền chị”
đặc quánh chất phong trần như tôi vào cái giỏ
lộn xộn đựng “đứa” của hắn
sao? Thiệt là xấc láo quá thể! Rơ ràng là chiến
lược xử sự của tôi ngay từ đầu
đă có kẽ hở nguy hiểm: nếu cố tránh
làm phật ư người khác th́ trước tiên c̣n phải
phơi thân hèn ra chịu đựng cho người
khác làm phật ư ḿnh cái đă.
Tôi khó chịu v́ sự xấc láo bừa
băi của hắn một phần th́ khó chịu v́ chuyện
“Nhớ Thu Vàng” của hắn đến hơn vài ba
phần. Trong lúc tôi è cổ để gánh cục nợ
hắn quàng lên cổ ḿnh nặng ỳ ỳ th́ hắn
nhẩn nha tí tởn cái vụ… nhớ Thu Vàng ! Coi bộ hắn ta nhớ từ lẩu
từ lâu chứ không phải nhân cái cơ hội ngàn
năm một thuở này mới bày đặt x́ ra cái
chuyện nhớ nhiếc tội nợ!
Tiếp (2)…
Thu Vàng là quư danh “cô bé” học khóa II.
Cô ta xinh xắn nhí nhảnh, đỉnh điểm là
đôi má núm đồng tiền phải nói thật…ác
liệt! Tiếc rằng giới chức nhà nước
bấy giờ tŕnh độ cảm thụ cái đẹp
hăy c̣n non nớt, mù mờ mông muội lắm lắm, bằng
không th́ hẳn người ta đă tổ chức hà rầm
những cuộc thi Hoa hậu núm đồng tiền
như chơi! Hỡi ôi! Thu Vàng của Viện Hán Học
Huế sinh bất phùng thời chăng? …
Tôi lại tiếp tục nghĩ ngợi
lan man lẩn thẩn. Ngày xưa, khi cụ Ôn Như hầu
(1741 - 1789) viết ra câu:
Áng
đào kiểm đâm bông năo chúng…
(Cung
oán ngâm khúc)
Tôi dám chắc cả 100% là cụ ấy
đoán ṃ! Ở vào cái thời phong kiến cũ x́ ấy
ai cho phép cụ ta léng phéng lân la đến gần một
cô gái dậy th́, đang thi hành nghĩa vụ cấm
cung, người ta dễ chi chịu phơi mặt
phơi má cho cụ Ôn nhà ta quan sát tại chỗ bằng
mắt thường không ghèn không toét? Trái lại, tôi sống
nhăn răng giữa thời đại dân chủ,
giải phóng phụ nữ, chứng kiến này nọ
hẳn hoi, thậm chí c̣n in vào trí nhớ rơ mồn một
nữa, cũng muốn tận mục sở thị, tả
này nọ vài câu cho đă thèm th́ lại bị cụ “phổng
tay trên” ngang xương để đăng kư
thương hiệu cụm từ “áng đào kiểm”
từ 180 năm trước! Số phận tôi đen
đủi vậy đó! Tôi thở dài theo kiểu
Alfred de Vigny: Ta sinh ra quá trễ trong một xă hội
quá cũ…!
Tôi quay ra ghẹo Vinh Anh bằng giọng
ch́ chiết:
-
Ai thế nào th́ ta không dám chắc, chớ
cái bản mặt Vinh Anh mà cũng bày đặt nhớ
Thu Vàng, giả dụ cô ả biết được,
chắc phải chạy đôn chạy đáo vay sạch
nước mắt của bạn bè đem về khóc
cho nỗi tủi thân bất hạnh quá bự của
ḿnh! Cái người xứng nhớ th́ chẳng chịu
nhớ cho, lại bị nhớ bởi thứ ba vạ...
Đúng là “tự cổ hồng nhan đa bạc mệnh”,
các cụ dạy cứ là chắc cứng như
đinh đóng cột!
Hắn lườm tôi một phát, nghịch
ngợm đưa bốn ngón tay hất hất xua xua
trước mũi như thể ra vẻ đuổi
mùi khó ngửi rồi giả bộ ngao ngán:
-
H́nh như có mùi ganh tỵ ghen tuông
chi ở chỗ ni th́ phải? Gần
mất đoàn kết rồi đây… Cái thằng, thiệt
là đáo để!
Mất hai gói mè xửng Song Hỷ cộng
với ba gói kẹo cau, nửa cân hạt dưa cùng một
gói trà, Ban giám khảo chúng tôi đă bổ sung một
lúc hơn trăm bài tạp nham rồi gán cho cái tên gọi
mỹ miều thật gắt mấu là thơ! Đi
đứt món tiền mua vé xe đ̣ một lượt
Huế - Đà Nẵng trong kế hoạch về quê
ăn Tết mà tôi đă tính toán chi li từ hôm đạp
xe tà tà vào cửa Thượng Tứ và chờ xem súng
thần công khạc đạn. Chánh chủ khảo
chung quy là thế đấy! Không biết rồi c̣n phải
è cổ thêm mấy cú nữa đây? Cũng may là ngoài học
bổng 750 đồng mỗi tháng, tôi c̣n thu được
hai món “giáo lộc”, tức thù lao dạy kèm chừng ấy
nữa, nhờ vậy thỉnh thoảng tôi mới chứng
tỏ bản lĩnh trượng phu, lên gân gồng
ḿnh thay mặt đám bạn lâu la để giao thiệp
với mấy vị chủ quán bánh bèo, chủ rạp
xi nê khả kính khả ái.
Nạp “tác phẩm” cuối cùng vào cặp
đựng hồ sơ, tôi hí hửng nắn nót mấy
chữ để bàng dân thiên hạ chỉ cần nh́n
thoáng bên ngoài dù cự ly là đầu sân cuối sân
đi nữa cũng đủ biết ngay, khỏi phải
tốn sức khám phá bên trong một cách ṭ ṃ bậy bạ
sinh rách việc. Trần Vinh Anh lôi cặp nọ về
phía ḿnh vỗ bồm bộp lên mặt cặp có mấy
chữ tổ bố THƠ DỰ THI rồi khúc khích cười,
bê cao lên quá đầu, rung rung lắc lắc:
-
Bằng chứng hiển nhiên đây
r…ồ…i…! “Chả” là thi nhân tiền chiến “chính hiệu
con nai vàng” mà không tổ chức nổi một cuộc
thi thơ mới đau! H́ h́…
Chao ôi! Th́ ra nhóm ABCT bày tṛ thi thơ
chỉ cốt “chơi xỏ” giáo sư Giám học Phan
Văn Dật ! Đă vậy c̣n lôi
tôi ra làm “con dê Do Thái” bị quất tới tấp xua
vào sa mạc! Chẳng đời nào tôi nghĩ rằng
họ dám giở tṛ như thế nên mới cam tâm t́nh
nguyện thọc chân vào bẫy ngon ơ
! Tôi phải đi nước cờ ǵ cho vui ḷng
cả đôi bên đây ? Cả hai
bên ḱnh địch ấy đều cư xử khá
tương đắc với tôi mà! Suy đi nghĩ lại
tôi đành chọn chủ trương “dĩ tĩnh chế
động”, “dĩ bất biến ứng vạn biến”
vậy. Cái cụ Khổng Minh thời Tam quốc ấy
kể ra cũng được việc đấy chứ!
“Trời ơi là Chánh chủ khảo!” Sao tôi đần
độn đến vậy được nhỉ?
Thật là thiếu cảnh giác cao độ. Thật
là “Ba phải chủ nghĩa !”.
Tôi
căng óc t́m hiểu căn nguyên sự xích mích đó của
nhóm ABCT với ông Giám học. Trước tiên là sự
bất đồng lộ rơ nhất về tôn giáo, chính
trị: ABCT gắn bó nhau chặt hơn chính là nhờ
chất kết dính được chế tạo bằng
hai chất đó, cọng với t́nh nghĩa... “cờ lê” như đă nói trên, v́ vậy sự
ḥa hợp diễn ra giữa họ với ông Giám học
chỉ tạo được quang cảnh... ḥa mà không
hợp như nước với dầu mà thôi.
C̣n có một lư do chủ yếu khác,
phải nheo mắt một lúc mới nh́n rơ.
Tiếp (3)…
Là nhà thơ nên khi chấm văn, thầy
Dật có “gu” đánh giá cao các ư lạ, lời hay
hơn là việc coi trọng bố cục chặt chẽ
lập luận đanh thép. Ông phục hồi lối
đánh giá thời cựu học là tán thưởng các
câu tâm đắc bằng cách “khuyên như ḷi tói” (tức
vẽ liền nhau những ṿng tṛn trông như chiếc
dây xích sắt dùng neo buộc tàu thuyền, v́ vậy cũng
có cách gọi khác là... khen vung xích chó). Bài làm nào không có dấu
“xích chó” th́ khó ḷng vượt nổi cửa ải
trung b́nh. Ngay số điểm ông dành cho bài xuất sắc
nhất, nhiều “ḷi tói” nhất cũng chỉ đạt
60% điểm tối đa, 40% c̣n lại, ông “cất
kỹ trong kho”, thành thử nhiều người cố
gắng mấy cũng chỉ quẩn quanh ở mức
gần gần tầm trung b́nh, khó ḷng bứt lên hàng xuất
sắc như hồi làm “nhà văn” ở các lớp
dưới. Riết rồi họ uất ức cảm
thấy ḿnh bị… trù ếm.
Năm ấy, thầy Dật tổ
chức cuộc thi truyện ngắn, tức đ̣i hỏi
mức trổ tài cao hơn. Người ta có thể
làm thơ ở tuổi lên năm như Lư Bạch, Trần
Tử Ngang nhưng viết văn th́ ít nhất cũng
phải chờ đến tuổi gấp đôi kia.
Một ḿnh Thầy đảm nhiệm
từ A đến Z chứ không có ban có bệ bát nháo
như chúng tôi, nhưng Thầy không làm AZ ấy ở
nhà mà mang đến trường - tức Di Luân
đường - tự giam ḿnh trong pḥng Giám học.
Có lẽ không một tập thể
nào mà cá nhân lại cảm thấy cô đơn như ở
Viện Hán Học hồi ba năm đầu. Từ
giáo sư đến sinh viên đều là những
người mới gắn kết qua loa bằng nghị
định ở tầng lớp trên và thi tuyển ở
tầng lớp dưới, v́ vậy thầy Dật với
tôi thường t́m dịp tâm sự để hiểu
nhau hơn.
Tôi đi về phía pḥng giám học
nhưng chỉ đứng bên ngoài v́ chưa thuận
tiện. Lớp cửa kính cho phép tôi mặc t́nh quan
sát: Thầy Dật ngồi quay lưng ra, đang
chăm chú viết. Liếc trộm được mấy
chữ, tôi rùng ḿnh kêu khổ: Trời ơi! Diễn
văn công bố kết quả thi Truyện ngắn!
Trước mặt Thầy là mấy gói kếch sù bằng
giấy bóng đỏ thắt nơ đàng hoàng, ṭn
teng tấm thiếp ghi rơ: giải…
cuộc thi truyện ngắn Viện Hán Học 1962!
Tôi thụp đầu xuống, rón
rén lùi ra. Chắc Thầy không phát hiện kịp kẻ
ŕnh ṃ, cứ cắm cúi mải miết. Tôi nhớ lại
mấy chữ mạ vàng khá sang trọng lộ rơ sau lớp
giấy bóng mà lạnh cả người: Nhà văn hiện đại
của Vũ Ngọc Phan!
Bộ sách “gối đầu giường”
cho người học và dạy Văn ấy tôi
chưa bao giờ sắm nổi v́ đă hiếm lại
đắt tiền (mặc dầu thâm tâm tôi đă chọn
hướng học và dạy ấy cho đời
ḿnh). Thế mà Thầy tặng thưởng nguyên bộ
đóng b́a simili, mạ chữ vàng!
Cơn hồi hộp vẫn c̣n âm ỉ
nhưng bất chợt tôi lại cảm thấy vui
vui: tôi nhận ra cái ổ gà trí tuệ của ḿnh về
thủ tục phát giải cuộc thi là hoàn toàn nhờ
vào ông cụ râu bảy cḥm qua đời từ 2456
năm về trước: Cụ Khổng Tử, cụ
làm quan ở cái nước mà dân Huế rất ghét nhắc
đến cái tên khiếm nhă ấy.
Nhờ có cụ mà bốn phía Di Luân
đường chỉ xài toàn một thứ cửa
kính trong suốt! Chính Ông Bảy Cḥm ấy đă bảo
rằng: Người quân tử th́ “ngồi trong pḥng
kín như giữa đường thênh thang lắm ngả”
(tọa mật thất như thông cù). V́ vậy nhất
cử nhất động đều phải nghiêm túc,
công khai và căng thẳng như có “mười mắt
nh́n vào, mười tay chỉ vào” (thập mục sở
thị, thập thủ sở chỉ, kỳ nghiêm hồ!).
Chính mấy chữ “Nhà văn hiện đại” mạ
vàng ấy đă chui qua cửa kính để t́m đến
giác mạc của tôi, rơ ràng là do những lời giáo huấn
của cụ Bảy Cḥm xui nên cả.
Ai cũng biết tỏng rằng phần
thưởng định đoạt một phần
đáng kể cho uy tín cuộc thi, trừ chứng tôi!
Cả nhóm ABCT năng nổ, lắm sáng kiến là thế
mà cũng chả ai nghĩ đến cái điều
đơn giản tối thiểu ấy.
Chỉ c̣n chưa đến ba giờ
nữa là công bố kết quả và trao giải cuộc
thi, thế mà có hai việc đáng phải lo ngay từ
nhiều ngày trước th́ bị chúng tôi buông xuôi một
cách đáng xấu hổ - Chánh chủ khảo ơi là
Chánh chủ khảo! Cứ nghĩ chỉ cần “nhớ
Thu Vàng” là đủ chất lượng cho cả một
cuộc thi thơ! Lạ thay hồi ấy chả ai thấy
đấy là điều ngớ ngẩn đáng buồn
cười !
Trong ṿng ba giờ sắp tới,
chúng tôi phải lo chuộc lẹ thứ tội tày
đ́nh của “Ban giám khảo” :
1.
Lùng cho bằng được Nguyễn
Phong (hiện chưa rơ con người đào hoa ấy
đang ở đâu, làm ǵ!) Chúng tôi cần mấy tấm
ảnh bài “Chức cẩm hồi văn” vốn
đang là thứ “văn vật” loại thời
thượng khá “hot” của sinh viên Hán học, chỉ
anh mới có. Phần thưởng nếu có được
chút giá trị nào hoàn toàn là nhờ nó.
2.
“Chánh chủ khảo” dốc túi giao
cho đám ABCT mua mấy gói kẹo cau làm phần thưởng,
gói ghém làm sao cho to và đẹp nhưng không nên cố
t́nh phỉnh gạt quá đáng.
3.
Điều đ́nh với hai người
trúng giải về t́nh cảnh khó khăn không sao xoay
được nguồn tài trợ xứng đáng khiến
cho phần hiện vật quá ư đạm bạc.
4.
Sắm gấp một tờ b́a
đỏ thật oách để che lưng cho bài diễn
văn (mà chất lượng vốn rất đáng
nghi ngờ!).
5.
Móc nối với Nguyễn Quyền
nhờ hắn ngâm bài thơ trúng giải. Hắn ta
đang là giọng ngâm thơ có đẳng cấp trên
Đài Phát thanh Huế ở thời điểm ấy.
Căi nhau chí chóe môt hồi cho việc
phân công, gă nào gă nấy cứ không đùn th́ đẩy,
mất hơn một giờ mới đâu vào đấy.
Phần tôi, lỉnh ngay vào bếp bà cai trường
Hàm Nghi để lo cái việc hóc búa nhất: viết
bài diễn văn tổng kết cuộc thi thơ
“quái gở” nọ! Chao ôi! Quỹ thời gian của
tôi chỉ c̣n nhinh nhỉnh một giờ đồng hồ!
Tôi đánh vật với chữ nghĩa
đầy khổ ải. Ấy là v́ tôi quá khổ tâm.
Lăo Tử bảo rằng “cái có do cái không sinh ra” (hữu
sinh ư vô - Đạo Đức kinh). Tôi phải “có”
bài diễn văn dựa trên cái “không” mênh mông bát ngát của
cuộc thi, nói cách khác, tôi phải “cao đàm khoát luận”
cho cái chất lượng trời ơi mà cuộc thi
không hề có. Tôi “đánh lộn ṣng” cuộc thi thơ
xuân nọ của Viện Hán học với cả một
nền thi ca bề thế của đất nước
trong một thời đại nào đó. Cái tật “huyền
hồ sáo thủ” mà Nguyễn Bá Học ghét cay ghét đắng
nặng lời xỉ vả trên báo Nam Phong đă rủ nhau
xuất hiện nhan nhản trong bài diễn văn rỗng
tuếch, đem không nói có ấy của tôi.
Viết tạm xong bài diễn
văn tội nợ ấy, tôi có cảm giác như kẻ
thoát thân toàn mạng sau một trận nhừ đ̣n bởi
nửa tá du côn đánh ghen! Từ phía pḥng tiệc liên
hoan đă dậy lên tiếng kê dọn lịch kịch,
tiếng gọi nhau í ới, nói chung là thứ tiếng
hổ lốn của toán người kém trách nhiệm
và thiếu chuyên nghiệp. Môi trường âm thanh
như thế không cho phép tôi đọc lại những
ǵ ḿnh vừa viết. Thôi th́ tùy cơ ứng biến vậy.
Tôi bước ra sân khấu làm thủ
tục cúi chào và kính thưa rồi mở cặp b́a diễn
văn, liếc qua cử tọa để nạp
đầy dũng khí cho ḿnh, tôi tràn trề tin tưởng
vào... thủ đoạn đểu cáng của ḿnh.
Phải nói rằng trong đám liên
hoan hôm ấy, tôi bỗng dưng đă biến thành một
người khác v́ bị đẩy đến
đường cùng. Các vị thánh hiền ngày xưa
đă phát hiện quy luật “cùng tắc biến, biến
tắc thông” hẳn là loại dụng cụ xài một
lần để dành miêu tả cho trường hợp
của tôi hôm ấy.
Trong quá khứ tôi vốn là kẻ có
tư cách không đến nỗi nào, và tôi quyết lợi
dụng chút uy tín ấy để chơi đểu.
Đọc diễn văn, cứ gặp những
đoạn, những câu chưa đạt, tôi chỉ
việc mấp máy môi thật mạnh mẽ, mắt liếc
trái phải, lên xuống trông rất thật, báo hại
anh chàng phụ trách micro cứ lâu lâu chạy ra nhấc
nhấc sợi dây, lắc lắc chân máy, gơ cộp cộp
bộ phận phóng âm, cứ tưởng món dụng cụ
ấy có sự cố tồi tệ nào đó. Các vị
chức sắc trong Viện có lẽ tận lúc giă từ
cơi thế giới ta bà này cũng chả một ai nghi
ngờ ǵ tṛ đểu cáng của tôi đạt tŕnh
độ kích trần đến thế.
Lên nhận giải nhất cuộc
thi thơ, cô nàng Ngọc Dung hôm ấy thật lộng
lẫy trong chiếc áo dài màu rêu có lẽ nổi bật
nhất trong đêm liên hoan nọ (mà không chừng c̣n ăn đứt thêm vài ba cuộc liên
hoan khác nữa chứ chẳng chơi!). Về lại
chỗ ngồi, cô tức th́ nhận được mẩu
giấy nguệch ngoạc: “Tha thiết yêu cầu chỉ
khui giải thưởng khi về đến nhà trọ...
BGK”.
Tôi lo xa có lẽ hơi thừa
nhưng điều đó rất cần để trấn
an cho nỗi ân hận căng cả người mà tôi
đang phải gồng ḿnh chịu đựng. Tôi cứ
tưởng tàn cuộc tinh nghịch nọ, tôi phải
nhận hàng chục lời nguyền rủa “Đồ xỏ lá!”, thế
nhưng xong cuộc là sinh viên cả Viện tỏa ra
về dự Tết sum họp tận mọi miền
xa tít khiến họ đành tự bắt buộc ḿnh
phải nguôi ngoai, sự phẫn nộ nếu có chắc
cũng tự động hóa giải.
Khi MC cất tiếng :
-
Được sự cho phép của
Linh mục Viện trưởng, bài thơ được
giải nhất “Xuân nhớ mẹ” sẽ được
bạn Nguyễn Quyền ngâm tặng quan khách!
Tiếng vỗ tay rộ lên có lẽ
dành hoan hô cho cả ba đối tượng: bài
thơ được giải, kẻ sáng tác nó và
người ngâm nó lên.
Giọng ngâm của Nguyễn Quyền
thật trầm ấm, thật truyền cảm, phải
nói là hay một cách phũ phàng tàn bạo! Té ra ông trời
sinh ra thằng cha nầy để hắn ngâm thơ
cho đời ngán ! Tôi dám chắc rằng,
nếu ai cắc cớ bảo hắn ngâm một câu chửi
thề, hắn sẽ thừa sức làm cho vô số
tâm hồn cảm thấy lâng lâng. Đă nhiều
năm sống ở làng quê nghèo, bốn bề không có
tiếng máy phát thanh, đây chính là lần đầu
tôi nghe được giọng ngâm thơ chuyên nghiệp
đến thế ! Tôi nghi ngờ rằng
sự trổ tài trên cả tuyệt vời của hắn
c̣n có một phần liên can đến nụ cười
e ấp cùng đôi mắt lá răm lông mày lá liễu nọ
của cô nàng đoạt giải.
Tiếng vỗ tay râm ran… Các cô bạn
ngồi cạnh Ngọc Dung mặc t́nh bẹo má bá vai,
trêu đùa cô ta thỏa thích.
Hơn hai mươi năm sau, tôi có
dịp đi Huế và ghé thăm thầy Dật. Thầy
tṛ trao đổi toàn chuyện linh tinh, h́nh như Thầy
không hay biết ǵ cái thâm ư của tṛ chơi thi thơ tệ
hại năm ấy… Về phần ABCT và tôi, chuyện
thi thơ Xuân 1962 không hẳn là tṛ nghịch ngợm cuối
cùng mà cũng chưa thực sự thành điều
nghiêm túc đầu tiên…
(Kỷ
niệm 50 năm ngày thành lập
Viện
Hán học Huế 1959 - 2009).
Thái Trọng Lai 太重来
Đà Nẵng, Việt Nam
|