TẠP BÚT 5:  CÂY NHĂN CỦA THÁI HẬU

 

 

 

 

 

 

 

Đến thời điểm này có lẽ hầu hết cư dân sinh sống kề nơi từng hiện diện cây nhăn đặc biệt ấy chẳng c̣n mấy ai nhớ đến vai tṛ danh giá sang trọng của nó v́ khoa lịch sử chẳng mấy quan tâm ǵ loại chuyện tủn mủn cỡ đó thành thử thiên hạ cũng thờ ơ nốt. Riêng với tôi, nó là nỗi ám ảnh ngót nửa thế kỷ nay, “khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào” (cách nói của Lư Trác Ngô trong bài Tựa Tây Sương Kư).

 

Nó là cây nhăn của bà Thái hậu Từ Dũ. Bà là nhân vật được nhiều người nhắc đến nhất của hậu cung triều Nguyễn. Tên thật là Phạm Thị Hằng (1810-1902), ái nữ của Đức quốc công Phạm Đăng Hưng (1765-1825). Bà là vợ vua Thiệu Trị (1840-1847) và là mẹ vua Tự Đức (1848-1883) được triều đ́nh tôn làm Thái hậu. Tính ra triều Nguyễn có tất cả 13 đời vua th́ bà đă sống trăi qua  10 đời và nhiều lần gặp mặt họ đến 9 đời. (Vua Thành Thái – 1889-1907 – gọi bà bằng bà cố). Đáng coi là kỷ lục cho mọi vương triều của mọi thời đại.

 

Tôi biết đến cây nhăn của bà vào năm 1962 qua lời kể của bà chủ nhà trọ (mà tôi tin ngay từ lời kể đầu tiên). Nhà trọ này nằm cách hồ Tịnh Tâm bằng con đường Đinh Bộ Lĩnh (nay là đường Đinh Tiên Hoàng) nhưng dân gian quen gọi là đường Cầu Kho, tên chiếc cầu nhỏ ở cuối đường trên lối vào đồn Mang Cá. Có lẽ ngày xưa cầu ấy nằm kề cái kho nào đấy của đồn nọ. Đầu cầu phía nam, mép tây con đường là bóng dáng sừng sững của cây nhăn cổ thụ nọ, đă trăi hơn trăm tuổi. Nó rất dễ bị nhận diện nhờ đứng cô đơn khá tội nghiệp, cao lêu nghêu gần gấp ba đám đàn em được trồng răi rác trên hai bên đường Cầu Kho cách xa nó ngót trăm mét. Đám nhăn “bá tính” ấy đều vạm vỡ, cành nhánh lia chia riêng nó cứ nhẵn tuột, cả chục mét mới chỉa ra một cành duy nhất, phía trên là ngọn cây trơ cùi, băo lốc đă liên tục vặt sạch từ hàng chục năm về trước. Với chiếc cành mồ côi ấy, sản lượng của nó mỗi năm chắc không vượt nổi nữa ngh́n quả. (Tôi mơ hồ cảm nhận có mối liên quan huyền bí nào đó giữa cây nhăn cô đơn cụt ngọn một cành nọ với việc bà Thái hậu chỉ có một con trai rồi góa bụa ṿ vơ đến 55 năm trong thời kỳ băo táp của vương triều Nguyễn).

 

Khi biết nó là cây nhăn danh giá, tôi cố tiếp cận bằng được người chủ và chỉ gặp được ông sau ba lần đến nhà. Trước mặt tôi là một ông lăo ngoài sáu mươi, vẻ mặt khó đăm đăm, người quắt queo hằn rơ vết cơ cực trong quá khứ. Phía sau ông là nếp nhà nhỏ lợp bằng tôn tận dụng, thủng lỗ chỗ và hoen rỉ gần hết. Tôi tươi cười bắt chuyện:

 

-         Bác ơi, nghe bà B. (tên bà chủ trọ của tôi, ở cách đấy vài trăm mét) nói cây nhăn của bác ngày xưa chỉ dành riêng cho bà Từ Dũ phải không ạ?

 

Giọng ông chậm răi có vẻ mệt mỏi:

 

-         Đó là chuyện từ đời “ôn” (ông) tui tê! Lớn lên tui cũng nghe kể như rứa!

-         Chừ bà Thái hậu ấy không “thời” (ăn) nữa, mùa ni bác bán cho tui mươi trái ăn thử nhé! Gởi tiền trước cho bác đây!

 

Vừa nói tôi vừa móc ví trao tận tay ông tờ bạc 200đ (bằng 1/3 tiền cơm tháng của tôi).

 

Tôi định hỏi thêm ông vài câu nhưng xem ra ông chẳng nhớ ǵ những điều nghe kể thời bé. Vả lại tôi cũng chẳng lạ ǵ thủ tục hành chính dành cho những cây ăn quả bị quy hoạch theo diện thượng tiến (dâng lên trên). Đấy là khi cây mới ra hoa, lư trưởng sở tại đă cắm bảng cấm kề gốc cây và khi đậu quả, lư trưởng phải tŕnh báo. Cây xoài tượng “thượng tiến” của làng tôi nằm trơ vơ giữa đồng nhưng trẻ chăn trâu dù rắn mắt đến mấy cũng chả đứa nào dám động đến v́ lệ làng phạt vạ rất nặng cho thứ tội mạo phạm đấy. Không cần hỏi ông ta, tôi cũng h́nh dung cây nhăn này cũng được hào lư địa phương áp dụng cung cách như thế. Bà chủ trọ kể rằng cây nhăn ấy có một đặc điểm lạ đời là hạt màu trắng chứ không đen như nhăn bá tính. Chi tiết ấy càng làm tôi háo hức hơn. Chỉ mươi năm nữa khi giống nhăn ấy xuất hiện trên thị trường, tên tôi cũng sẽ thay cho tên bà Thái hậu nọ. Vườn nhà tôi đủ chỗ cho số hạt nhăn đặt mua.

 

Tiếp…

 

Tôi trở lại Huế sau kỳ nghỉ hè th́ mùa nhăn đă văn. Tôi đến gặp ông ta để xin lỗi và hẹn tiếp mùa nhăn 1963. Ông đồng ư. Năm sau, trước khi về nghỉ hè, tôi viết mấy lời cho ông để dùng làm một thứ chứng từ cho bà B nhận hàng.

 

Khi tôi trao mảnh “chứng từ” nọ cùng mấy lời dặn ḍ đính kèm, bà chủ trọ bật cười:

 

-         Anh viết lách chi tốn công chứ chẳng ích chi mô! Ai mua nhăn, ông ấy cũng buộc phải ăn tại chỗ, trả xong hạt nầy ông mới đưa cho trái khác.

 

Trời đất! Tôi chẳng c̣n dám tin vào tai ḿnh! Thật nghe như chuyện cổ tích! Tôi nhớ lại chuyện ông Lương Nhữ Hộc thế kỷ XV đi sứ nhà Minh đă phải lén giấu hạt bắp vào chỗ kín mới đem được giống cây lương thực có giá trị ấy về cứu đói cho dân ḿnh. Tôi có muốn bắt chước ông ấy cũng là thứ nhiệm vụ bất khả thi, bởi hạt nhăn đâu có đơn giản như hạt bắp? Huống chi tôi c̣n phải nhóp nhép từng quả một trước đôi mắt hau háu canh chừng của ông ta? Tôi bèn đến nhà ông hỏi lại cho rơ, và sau bao nhiêu điều đ́nh vô hiệu, tôi c̣n biết bực bội nhận lại tiền cọc năm trước.

 

Nỗi ám ảnh ngày càng đè nặng ḷng tôi. Sao lại có kẻ tâm địa kỳ cục như vậy được nhỉ? Cứ cho là tôi manh tâm nhân giống cây nhăn ấy đi nữa th́ có thiệt hại ǵ cho thói ích kỷ cực đoan của ông đâu? Lẽ ra ông phải nhiệt liệt ủng hộ tôi cứu văn ḍng dơi cây nhăn Thái hậu ấy khi mà họa tuyệt chủng đang ŕnh rập nó từng ngày? Lẽ nào ông không có chút ḷng trắc ẩn dành cho nó trong khi hàng ngh́n năm trước, Mạnh Tử (372-289 tr CN) xác định rằng “ḷng trắc ẩn là thứ mọi người đều có” (Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi) lẽ nào ông là ngoại lệ? Lẽ nào ông coi sự tuyệt chủng của một cây quư do ḿnh trực tiếp chịu trách nhiệm là một thứ thắng lợi vẻ vang? Thật không thể nào suy đoán nổi tâm địa của ông.

 

Tôi c̣n bị ám ảnh bởi nhiều lẽ khác:

 

Kể  từ lúc phát hiện ra giống nhăn lạ ấy cho đến lúc bà Thái hậu “chấm” nó, khoảng thời gian ấy đâu phải là ngắn ngủi ít ỏi? Sao lại không một ai nghĩ đến chuyện nhân giống nó? Rồi đến khi bà Thái hậu thưởng thức độc quyền, chung quanh bà nào cung nga, thể nữ, a hoàn, thái giám, túc vệ, v.v… lẽ nào chả ai được ban một vài quả hay chính bà không bỏ sót lại vài quả? Thậm chí kẻ xử lư rác thải trong Tử cấm thành sao lại không có một ai quan tâm ǵ đến loại nhăn quư?

 

Suy đi nghĩ lại tôi quyết định tự xóa nỗi ám ảnh kéo dài bấy lâu rằng chả có cây nhăn hạt trắng ấy, v́ nếu có, tất nó được nhân giống không khó khăn ǵ. Tất cả chỉ là huyền thoại ngoa truyền, đặc biệt là mùa mưa băo năm 1964, nhánh nhăn mồ côi của cây nhăn quư nọ cũng găy nốt, góp phần củng cố cho huyền thoại nọ thêm phần ly kỳ hấp dẫn hơn!

 

 

 

Thái Trọng Lai  太重来

Đà Nẵng, Việt Nam, Tháng 9, 2011

 

 

 

 

 

请阅读吳文赖老师佳作 * Xin mời đọc một số tác phẩm cuả Giáo Sư Ngô Văn Lại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** 投稿電子郵件請寄 ***

Bài vở & h́nh ảnh xin gởi về Ban Phụ Trách KHAIMINH.ORG

 

VanNgheGiaiTri@KhaiMinh.org

 

 

 

 

 啓明网站  |  Copyright © 2011  KHAIMINH.ORG  |  Website Disclaimer